Tạp chí Dầu khí
http://www.pvj.vn/index.php/TCDK
An official scientific journal of the Vietnam National Oil and Gas Groupen-USTạp chí Dầu khí2615-9902<p>1. Tác giả giao bản quyền bài viết (tác phẩm) cho Tạp chí Dầu khí, bao gồm quyền xuất bản, tái bản, bán và phân phối toàn bộ hoặc một phần tác phẩm trong các ấn bản điện tử và in của Tạp chí Dầu khí.</p> <p>2. Bằng cách chuyển nhượng bản quyền này cho Tạp chí Dầu khí, việc sao chép, đăng hoặc sử dụng một phần hay toàn bộ tác phẩm nào của Tạp chí Dầu khí trên bất kỳ phương tiện nào phải trích dẫn đầy đủ, phù hợp về hình thức và nội dung như sau: tiêu đề của bài viết, tên tác giả, tên tạp chí, tập, số, năm, chủ sở hữu bản quyền theo quy định, số DOI. Liên kết đến bài viết cuối cùng được công bố trên trang web của Tạp chí Dầu khí được khuyến khích.</p>Dự báo rủi ro sinh cát tại các tầng chứa cố kết yếu sử dụng phương pháp địa cơ học tích hợp: Nghiên cứu điển hình ở bể Cửu Long, ngoài khơi Việt nam
http://www.pvj.vn/index.php/TCDK/article/view/1161
<p>Hiện tượng sinh cát trong quá trình khai thác dầu khí là một trong những thách thức trong vận hành khai thác, đặc biệt tại các tầng chứa cố kết yếu như cát kết Miocene, bể Cửu Long, gây ra suy giảm sản lượng, hư hỏng thiết bị, thậm chí phải bỏ giếng. Do đó, dự báo chính xác tiềm năng sinh cát là điều kiện tiên quyết trong tối ưu hóa thiết kế hoàn thiện giếng và lựa chọn phương pháp kiểm soát cát phù hợp.</p> <p>Nghiên cứu này trình bày phương pháp tiếp cận địa cơ học “đồng thuận” dựa trên tổ hợp năm chỉ số nhằm dự báo rủi ro sinh cát tại các tầng chứa cố kết yếu: (1) thời gian truyền sóng âm học (DTCO), (2) chỉ số sinh cát BI, (3) tỷ số Schlumberger (SR), (4) mô đun đàn hồi tổng hợp (Ec), và (5) cường độ chịu nén đơn trục (UCS). Các chỉ số này được xác định từ tài liệu địa vật lý giếng khoan cơ bản (gamma, sóng âm, mật độ) kết hợp với các tham số địa cơ học tính toán.</p> <p>Phương pháp được áp dụng tại một giếng khoan thuộc lô 01&02 bồn trũng Cửu Long, với năm thân cát chính được phân tầng thành 15 phân đoạn nhỏ dựa trên thay đổi đặc trưng vật lý thạch học (địa vật lý giếng khoan). Kết quả nghiên cứu cho thấy sự không đồng nhất lớn trong nội bộ thân cát: Thân cát 1-4 đồng loạt thể hiện mức rủi ro cao với các giá trị đặc trưng thấp hơn ngưỡng tới hạn, trong khi thân cát 5 nhìn chung biểu hiện trung bình ở mức rủi ro thấp-trung bình. Phân tích chi tiết Cát 5 nhận diện ba phân đoạn nhỏ riêng biệt với đặc tính khác biệt đáng kể. Kết quả khai thác giếng khẳng định độ tin cậy dự báo, khi áp suất giảm 600 psi bắt đầu xuất hiện cát tại các đoạn đã dự báo.</p> <p>Trên cơ sở các kết quả đạt được, nghiên cứu khuyến nghị áp dụng biện pháp kiểm soát cát chủ động cho toàn bộ các đoạn có mức rủi ro cao nhằm đảm bảo khai thác an toàn và bền vững. Phương pháp tích hợp đa chỉ số nâng cao độ tin cậy đáng kể so với các phương pháp chỉ sử dụng 1 chỉ số đơn lẻ, đồng thời có thể ứng dụng rộng rãi cho các điều kiện địa chất tương tự, giảm đáng kể nhu cầu phân tích mẫu lõi, đặc biệt phù hợp khi mẫu lõi hạn chế hoặc không có sẵn.</p>Quy Ngoc Pham Van Thuan Nguyen Truong Giang Pham Minh Quy Nguyen
Copyright (c)
2025-12-222025-12-22641210.47800/PVSI.2025.06-01Nghiên cứu tổ hợp axit mới trong công tác xử lý vùng cận đáy giếng cho vỉa cát kết: trường hợp ở mỏ Bạch Hổ, Việt Nam
http://www.pvj.vn/index.php/TCDK/article/view/1162
<p>Xử lý acid vùng cận đáy giếng là kỹ thuật quan trọng nhằm cải thiện độ thấm và tăng cường khả năng thu hồi hydrocarbon. Tuy nhiên, các dung dịch acid hydrochloric truyền thống thường gặp phải những thách thức như sự hình thành nhũ tương ổn định, kết tủa thứ cấp và không tương thích với chất lưu vỉa. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các hệ dung dịch acid cải tiến (CKP<sup>+</sup> and GKP<sup>+</sup>) trong việc xử lý vỉa cát kết tại mỏ Bạch Hổ. Các thí nghiệm được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của các hệ dung dịch acid này trong việc cải thiện độ thấm, giảm sự trương nở của đất sét và ngăn ngừa sự hình thành kết tủa thứ cấp.</p> <p>Kết quả thí nghiệm bao gồm các thí nghiệm ổn định sét, thí nghiệm hòa tan mẫu đá vỉa và đánh giá khả năng phục hồi độ thấm đã chỉ ra rằng các dung dịch acid đề xuất hiệu quả trong việc giảm hệ số skin, cải thiện độ thấm và duy trì tỷ lệ thu hồi dầu. Việc thêm các chất chống nhũ tương và ổn định sét đã cải thiện tính tương thích của dung dịch acid với dầu thô, giảm sự hình thành nhũ tương. Hơn nữa, các dung dịch acid cải tiến cho thấy kết quả hứa hẹn trong việc ngăn ngừa kết tủa liên quan đến sắt, một vấn đề thường gặp với các acid truyền thống. Các mô phỏng được thực hiện bằng phần mềm Kinetix Matrix của Schlumberger cho thấy phương pháp xử lý vùng cận đáy giếng bằng axit mới đề xuất có thể loại bỏ hiệu quả nhiễm bẩn thành hệ, đặc biệt trong các tầng Miocene và Oligocene mà các acid truyền thống gặp giới hạn. Nghiên cứu cho thấy các dung dịch CKP<sup>+ </sup>and GKP<sup>+</sup> đưa ra giải pháp tiết kiệm chi phí, cải thiện khả năng cho dòng của giếng và duy trì khả năng thu hồi hydrocarbon lâu dài.</p>Hai Linh LuongVan Trung NguyenQuang Khanh DoThe Dung NguyenNam Chung HoVan Hong Nguyen
Copyright (c)
2025-12-222025-12-226132510.47800/PVSI.2025.06-02Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ trong thu gom, xử lý và sử dụng khí đồng hành tại các mỏ ngoài khơi do Vietsovpetro vận hành
http://www.pvj.vn/index.php/TCDK/article/view/1163
<p>Năm 1986, sau gần 5 năm thăm dò, Vietsovpetro đã khai thác thành công những tấn dầu thô đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ, tại Lô 09-1, bể Cửu Long trên thềm lục địa Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu một bước đột phá mang tính lịch sử đối với ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam, đưa Việt Nam gia nhập hàng ngũ các quốc gia khai thác và xuất khẩu dầu mỏ, đồng thời đặt nền móng cho sự phát triển của ngành dầu khí hiện đại Việt Nam.</p> <p>Năm 1995, Vietsovpetro đã đạt được một cột mốc quan trọng khác khi tiên phong trong việc thu gom, xử lý và vận chuyển khí đồng hành vào bờ thông qua các giải pháp công nghệ sáng tạo và những cải tiến kỹ thuật, mặc dù điều kiện hạ tầng ngoài khơi vào thời điểm đó còn rất hạn chế. Các giải pháp này đã đánh dấu bước nhảy vọt lớn thứ hai của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam, đồng thời tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển sau này của Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS).</p> <p>Bài viết này trình bày những điểm chính của cụm công trình thu gom và sử dụng khí đồng hành do Vietsovpetro triển khai tại các mỏ thuộc Lô 09-1 và các mỏ lân cận ngoài khơi.</p>Viet Dung LeLam Anh NguyenAnh Phong NguyenQuoc Dung NguyenVan Luong ChuHoai Vu Nguyen
Copyright (c)
2025-12-222025-12-226263410.47800/PVSI.2025.06-03Cải thiện quyết định FDP trong điều kiện khan hiếm dữ liệu: Phương pháp Metropolis thích ứng nhằm ước lượng phân vị của chiều dày hiệu dụng
http://www.pvj.vn/index.php/TCDK/article/view/1164
<p>Trong giai đoạn đầu của kế hoạch phát triển mỏ (FDP), các quyết định thường được đưa ra dựa trên số lượng mẫu vỉa ít ỏi, khiến cho phương pháp bảng tính truyền thống (thường áp dụng phân bố loga chuẩn lognormal) trở nên thiếu tin cậy và phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người phân tích. Nghiên cứu dưới đây giới thiệu phương pháp Metropolis–Adaptive Distribution Range-Constrained (M-ADRC), một hướng tiếp cận thực tế kết hợp Metropolis–Hastings (MH) với phương pháp giới hạn thích ứng (adaptive constraints) nhằm mục đích tạo ra quần thể tổng hợp có tính đại diện dựa trên số mẫu nhỏ.</p> <p>Quy trình này kết hợp: (i) áp đặt giới hạn tham số dựa vào kiến thức chuyên môn, (ii) hiệu chỉnh thích ứng tham số của MH, (iii) cơ chế tự động chuyển đổi giữa hai phân bố Pearson III và lognormal, và (iv) phương pháp vòng lặp thích ứng cho các mẫu có độ chệch (bias) cực đoan.</p> <p>Sử dụng bộ dữ liệu chiều dày hiệu dụng (net-pay) của một mỏ khí ở Đông Nam Á, các quần thể tổng hợp tạo ra từ M-ADRC và phương pháp bảng tính loga chuẩn truyền thống được đối chứng với nhau trên nhiều mẫu net-pay. Kết quả cho thấy M-ADRC đạt khoảng cách Wasserstein thấp hơn đáng kể và sai số trung bình Swanson nhỏ hơn; đồng thời phương pháp này có thể đạt ngưỡng Wasserstein “xuất sắc” chỉ với tám mẫu, khoảng một nửa so với yêu cầu cỡ mẫu tối thiểu của phương pháp bảng tính.</p> <p>M-ADRC nhẹ về tính toán, được xây dựng trên mã nguồn mở hoàn toàn và không đòi hỏi phần cứng chuyên dụng. Phương pháp cung cấp sẵn các thiết lập mặc định, có khả năng kiểm tra chẩn đoán và phân tích độ nhạy, cho phép kỹ sư vỉa áp dụng mà không cần kinh nghiệm chuyên sâu để tinh chỉnh. M-ADRC tạo ra các phân vị giả lập có độ tin cậy hơn trong điều kiện cỡ mẫu nhỏ, làm giảm rủi ro của vấn đề dữ liệu đầu vào có độ chệch cao trong FDP và tăng độ tin cậy của các quyết định phát triển mỏ. Các hạn chế của quy trình hiện tại như giới hạn của loại phân bố, khả năng đối phó với độ chệch cực đoan, và tích hợp thuộc tính địa không gian sẽ được xem xét trong nghiên cứu tiếp theo.</p>Xuan Phuc PhamTran Minh Tri LeVu Tung TranHong Kien NguyenNgoc Tuan Anh NguyenTien Trung Pham
Copyright (c)
2025-12-222025-12-226354610.47800/PVSI.2025.06-04Thực nghiệm mô phỏng hành vi rửa trôi của alkylphenol trong quá trình bơm ép nước
http://www.pvj.vn/index.php/TCDK/article/view/1165
<p>Sự tiếp xúc của nước bơm ép và dầu thô trong quá trình bơm ép nước kéo theo sự rửa trôi các hợp chất phenolic dễ tan trong nước sẵn có trong thành phần dầu. Tốc độ suy giảm nồng độ alkylphenol trong nước bơm ép do rửa trôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan đến hệ số phân bố dầu - nước, độ bão hòa dầu, vận tốc của các pha và hệ số phân tán.</p> <p>Bài báo này trình bày nghiên cứu thực nghiệm kết hợp với mô hình giải tích để đánh giá liên hệ giữa tốc độ rửa trôi và hệ số phân bố của một số chất alkylphenol mạch ngắn trong quá trình tương tác dầu - nước. Thí nghiệm bơm nước đẩy dầu được thực hiện trên mô hình cột nhồi bi thủy tinh, trong đó cột nhồi được bão hòa dầu thô Sư Tử Nâu ở nhiệt độ 40<sup>o</sup>C. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong một điều kiện dòng chảy nhất định, tốc độ rửa trôi của alkylphenol khác nhau chủ yếu do hệ số phân bố, từ đó gợi ý khả năng sử dụng alkylphenol làm chất đánh dấu để xác định độ bão hòa dầu dư trong vùng quét của nước bơm ép.</p>Thi Thu Huong HuynhHuu Quang NguyenVan Son LeAn Son Nguyen
Copyright (c)
2025-12-222025-12-226475410.47800/PVSI.2025.06-05Tăng nhiệt độ điểm chớp cháy của sản phẩm dầu DCO đáp ứng tiêu chuẩn điểm chớp cháy nền của sản phẩm dầu FO
http://www.pvj.vn/index.php/TCDK/article/view/1169
<p class="Default" style="text-align: justify; layout-grid-mode: char; margin: 3.0pt 0in 3.0pt 0in;"><span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt; color: windowtext;">Nhiệt độ điểm chớp cháy của dầu đã lọc bỏ hạt rắn (DCO) luôn ở mức thấp kể từ khi Nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào vận hành thương mại năm 2009. Nguyên nhân được cho là do dòng lỏng ở đáy tháp chưng cất đã hấp thụ một lượng khí nhẹ như H₂, CH₄ và C₂H₆ trong quá trình chưng cất. Các khí nhẹ này không thể được tách hiệu quả bằng phương pháp chưng cất tại tháp T-1501, và cả việc thay đổi phần cứng hay điều chỉnh góc xếp lớp của tầng đệm thứ năm của tháp đã thực hiện đều không mang lại hiệu quả. Việc tách các khí nhẹ này chỉ có thể thực hiện bằng cách áp dụng phương pháp tách khí nhẹ cho dòng sản phẩm DCO từ đáy tháp và tại D-1515. Phương pháp này phải đảm bảo không thay đổi phần cứng hiện có và chỉ sử dụng thiết bị hiện hữu. Kỹ thuật này bao gồm việc phun dòng N₂ trực tiếp vào bình chứa lỏng để loại bỏ khí nhẹ bằng cách giảm áp suất riêng phần của các phần nhẹ có trong dầu DCO. Giải pháp này đã thành công nâng nhiệt độ điểm chớp cháy của DCO từ 49°C lên 84°C vào tháng 7/2018 và được duy trì cho đến nay. Hơn nữa, nhiệt độ điểm chớp cháy có thể được điều chỉnh bằng dòng N₂ để vượt quá 100°C, do đó đáp ứng tiêu chuẩn và vượt yêu cầu kỹ thuật là 66°C.</span></p>Hoang Tri Nguyen Chanh Quoc NguyenCong Vinh HuynhAnh Khanh BuiQuang Xuan Nhan Ho Huu Trung Nguyen Van Vuot Bui Thanh Bong Nguyen
Copyright (c)
2025-12-222025-12-226556010.47800/PVSI.2025.06-06Chuyển hóa các phụ phẩm nông nghiệp bền vững thành cellulose vi tinh thể (MCC) để sản xuất nhựa phân hủy sinh học trên nền PLA, ứng dụng trong lĩnh vực hóa dầu
http://www.pvj.vn/index.php/TCDK/article/view/1170
<p>Cellulose vi tinh thể (Microcrystalline Cellulose – MCC) được chiết xuất từ các nguồn phụ phẩm nông nghiệp gồm thân cây sắn, thân chuối, lá dứa và bã cà phê thông qua quy trình thủy phân axit đã được tối ưu hóa. Các phân tích toàn diện về cấu trúc, hình thái và tính chất nhiệt cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nguồn nguyên liệu, trong đó MCC thu được từ thân cây sắn được xác định là nguồn khả thi và bền vững nhất nhờ độ kết tinh cao, kích thước hạt đồng đều, độ ổn định trong quá trình gia công, nguồn cung sẵn có và tiềm năng cung ứng quy mô lớn. MCC này được phối trộn vào nền tinh bột nhiệt dẻo (Thermoplastic Starch – TPS) và poly(lactic acid) (PLA) để chế tạo các vật liệu composite phân hủy sinh học hoàn toàn. Kết quả nhiễu xạ tia X (XRD) xác nhận sự bảo toàn của các miền MCC có cấu trúc tinh thể; ảnh hiển vi điện tử quét (SEM) cho thấy MCC được phân tán đồng đều trong pha TPS; trong khi các phân tích nhiệt trọng lượng và nhiệt vi sai (TGA/DTA) chứng minh sự cải thiện đáng kể về độ bền nhiệt của vật liệu. Các thử nghiệm cơ học cho thấy tỷ lệ phối trộn tối ưu PLA:MCC:TPS = 70:4,5:25,5 (với hàm lượng MCC chiếm 15% so với (MCC/TPS)) mang lại sự cân bằng tốt nhất giữa độ bền kéo, mô đun đàn hồi và khả năng phân hủy sinh học. Các composite này thể hiện độ bền cơ học phù hợp cho các ứng dụng bao bì bền vững và vật liệu dùng trong dịch vụ thực phẩm, đồng thời vẫn đảm bảo khả năng phân hủy sinh học hoàn toàn.Nhìn chung, kết quả nghiên cứu làm nổi bật thân cây sắn như một nguồn MCC bền vững, sẵn có tại địa phương, đồng thời chứng minh rằng các composite PLA/(MCC/TPS) có tiềm năng thay thế nhựa có nguồn gốc hóa dầu trong một số lĩnh vực ứng dụng cụ thể, qua đó đóng góp tích cực vào chiến lược chuyển dịch năng lượng toàn cầu và mục tiêu giảm phát thải CO₂.</p>Thi Thu HaThi Bay Nguyen Thanh Trung Nguyen Nam Phong Pham Van Bac Pham Thi Thu Trang Nguyen
Copyright (c)
2025-12-222025-12-226617310.47800/PVSI.2025.06-07Phát thải khí thải xe máy tại khu vực đô thị Việt Nam: Hiện trạng và các giải pháp kỹ thuật
http://www.pvj.vn/index.php/TCDK/article/view/1171
<div> <p>Các thành phố lớn của Việt Nam đang chịu ô nhiễm không khí nghiêm trọng, với Hà Nội ghi nhận nồng độ PM2.5 khoảng 45 µg/m³ — gần gấp 9 lần giá trị hướng dẫn của WHO. Tình trạng này chủ yếu xuất phát từ 77 triệu xe máy đang lưu hành, trong đó 70% có tuổi đời trên 10 năm và 94% không có hệ thống kiểm soát khí thải. Xe máy chiếm khoảng 76% lượng phát thải CO, 68% HC và 54% NOx tại khu vực đô thị. Quá trình chuyển dịch sang xe điện đang đối mặt với những thách thức then chốt, bao gồm thời gian phát triển hạ tầng kéo dài 10–15 năm so với thời hạn chính sách chỉ 18 tháng; phát thải từ sản xuất pin (60–100 kg CO₂/kWh); và nguy cơ chuyển dịch ô nhiễm do tỷ trọng điện than cao. Bài báo này phân tích các công nghệ kiểm soát khí thải và cho thấy hệ thống phun xăng điện tử (electronic fuel injection) và nhiên liệu E10 chỉ đạt mức giảm 30–40% đồng thời làm tăng NOx; trong khi đó, bộ xúc tác ba chức năng (three-way catalytic converter) đạt mức giảm trên 85% đối với toàn bộ các chất ô nhiễm, và có chi phí thấp hơn đáng kể so với việc chuyển đổi sang xe điện ngay lập tức. Bài báo đề xuất một khung giải pháp hai giai đoạn: i) Giai đoạn lắp đặt ngay lập tức (2025–2028), được hỗ trợ bởi nguồn cung nhiên liệu sạch và mở rộng điện khí; và ii) Giai đoạn chuyển đổi hệ thống (2028–2040), được thúc đẩy bởi hạ tầng năng lượng sạch đa dạng, mạng lưới metro và hệ sinh thái hydrogen xanh. Trong cả hai giai đoạn, nghiên cứu nhấn mạnh sự phối hợp với ngành dầu khí nhằm bảo đảm an ninh năng lượng trong quá trình chuyển đổi.</p> </div>Vu Anh Phan Van Tu Nguyen Linh Lan Hoang Quang Hung Le
Copyright (c)
2025-12-222025-12-226748010.47800/PVSI.2025.06-08Đánh giá mức độ giảm thiểu phát thải khí nhà kính và sunfur dioxide khi chuyển đổi nhiên liệu xăng và diezen tại Việt Nam
http://www.pvj.vn/index.php/TCDK/article/view/1172
<p>Việt Nam đã tuyên bố Quốc gia tự nguyện về giảm thiểu phát thải đến 15,8% năm 2030 so với kịch bản cơ sở năm 2014 và hướng tới Netzero cho năm 2050. Hiện nay Việt Nam có 48 triệu xe máy và 2,4 triệu xe oto đã đăng ký lưu thông. Thị trường trong nước đang cung cấp nhiên liệu xăng và diezen theo mức II, III và V với hàm lượng lưu huỳnh khác nhau. Sản lượng xăng dầu năm 2023 đạt 15,8 triệu tấnphát thải 50 triệu tấn khí nhà kính và 9.800 tấn khí SO<sub>2</sub>. Chính phủ đã ban hành các QĐ số 876/CP để khuyến khích sử dụng nhiên liệu sạch và chuyển dịch năng lượng trong ngành giao thông vận tải hướng đến NetZero vào năm 2050. Các kịch bản về tăng cường sử dụng nhiên liệu sinh học E5 và chuyển dịch sử dụng động cơ xăng sang động cơ điện để giảm thiểu phát thải phát thải khí nhà kính và SO<sub>2</sub> sẽ được tính toán và thảo luận. Kết quả sẽ được so sánh với mục tiêu giảm thiểu phát thải của chính phủ Việt Nam.</p>Dinh Son Tho Van Ngoc Tu Nguyen
Copyright (c)
2025-12-222025-12-226818810.47800/PVSI.2025.06-09Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính: Petrovietnam tập trung vào "6 tiên phong" và phát triển lĩnh vực trọng tâm, cốt lõi
http://www.pvj.vn/index.php/TCDK/article/view/1166
<p><strong><em>Ngày 26/12/2025, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2025, triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2026 của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và trao Quyết định bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên Petrovietnam.</em></strong></p> <p>Cùng dự Hội nghị có Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình, Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn, Lê Thành Long, Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng và đại diện lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương.</p> <p><em><strong>Tổng doanh thu vượt 1,1 triệu tỷ đồng, tương đương 9 - 10% GDP </strong></em></p> <p>Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định Petrovietnam là tập đoàn kinh tế nhà nước hàng đầu, giữ vai trò tiên phong trong dẫn dắt phát triển công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng, tăng trưởng xanh, tăng trưởng số và hội nhập quốc tế sâu rộng.</p> <p>Thủ tướng Chính phủ nhắc lại phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Petrovietnam, khẳng định Tập đoàn đã có những đóng góp quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, giữ vững “mạch sống” của xã hội, góp phần bảo vệ an ninh chế độ, ở những thời điểm cam go, trước những biến động chính trị thế giới; đồng thời đánh giá cao vai trò bảo đảm "5 An" và thành tựu "5 Nhất" và tặng Petrovietnam 8 chữ: Tiên phong - Vượt trội - Bền vững - Toàn cầu.</p> <p>Theo Thủ tướng Chính phủ, Petrovietnam đã nỗ lực vượt bậc, hành động quyết liệt, không ngừng đổi mới, sáng tạo, đạt được kết quả quan trọng, khái quát bằng "32 chữ": (1) Ý chí hội tụ; (2) Tinh thần chiến binh; (3) Thành tích toàn diện; (4) Tư duy đổi mới; (5) Hội nhập sâu rộng; (6) Quản trị thông minh; (7) Nhân văn đong đầy; (8) Giá trị lan tỏa.</p> <p>Với phương châm "Một đội ngũ - Một mục tiêu", cấp ủy và tập thể lãnh đạo Tập đoàn đã không ngừng vun đắp tình đoàn kết, thống nhất, chung ý chí và hành động để xây dựng Petrovietnam ngày càng phát triển. Petrovietnam đã thể hiện tinh thần chiến binh vững vàng vượt khó, tái cơ cấu thành công, sốc lại tinh thần, khơi dậy niềm tin và lan tỏa khát vọng phát triển.</p> <p>Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao Petrovietnam đã hoàn thành và vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2025 và kế hoạch 5 năm 2021 - 2025, đạt tốc độ tăng trưởng vượt trội, bứt phá. Đặc biệt, Petrovietnam lập kỷ lục lần thứ 4 liên tiếp về tổng doanh thu; nộp ngân sách nhà nước năm 2025 đạt gần 166 nghìn tỷ đồng, vượt 80% kế hoạch; là doanh nghiệp nhà nước có lợi nhuận cao nhất cả nước. Giá trị thực hiện đầu tư năm 2025 đạt 51,4 nghìn tỷ đồng, tăng gần 44% so với năm 2024. Sản lượng khai thác dầu tăng 0,8% so với năm 2024, sau 11 năm liên tục suy giảm. Sản xuất điện tăng 7,3% và sản xuất xăng dầu tăng 17,6% so với năm 2024... Gia tăng trữ lượng dầu khí 14,5 triệu tấn quy dầu, tăng 11,5% so với kế hoạch năm 2025. Năm 2025, tổng tài sản hợp nhất của Petrovietnam ước đạt gần 1,2 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 40% so với năm 2020, chiếm 33% tổng tài sản của các doanh nghiệp nhà nước; vốn chủ sở hữu hợp nhất ước đạt gần 587 nghìn tỷ đồng, tăng 27% so với năm 2020, chiếm 32,4% tổng vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước.</p> <p>Petrovietnam chủ động, tích cực đổi mới tư duy, dám nghĩ dám làm. Nhiều dự án trọng điểm, tồn đọng kéo dài từng bước được tháo gỡ, đưa vào vận hành an toàn, hiệu quả, như Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2, khởi động lại dự án khí Lô B, tái cấu trúc Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn...</p> <p>Petrovietnam nâng cao hiệu quả hoạt động, tiên phong trong lĩnh vực năng lượng mới, từng bước tham gia chuỗi giá trị năng lượng toàn cầu. Doanh thu từ mở rộng kinh doanh quốc tế năm 2025 đạt trên 144,6 nghìn tỷ đồng, tăng 56% so với năm 2024.</p> <p>Petrovietnam quản trị thông minh, xây dựng được hình mẫu trong quản trị, điều hành đối với các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước.</p> <p>Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao Petrovietnam thể hiện sứ mệnh tiên phong trong thực hiện trách nhiệm với cộng đồng, với hơn 5.100 tỷ đồng đóng góp cho an sinh xã hội trong nhiệm kỳ vừa qua (trong đó riêng năm 2025 đạt hơn 1.500 tỷ), tăng 75% so với nhiệm kỳ trước.</p> <p>Về giá trị lan tỏa, Petrovietnam đã khởi công, đưa vào hoạt động 50 dự án, công trình lớn trong giai đoạn 2021 - 2025 với tổng giá trị 561 nghìn tỷ đồng, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng. Năm 2024, Petrovietnam được Fortune xếp hạng 11 trong Top 500 doanh nghiệp khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 5 khu vực về lĩnh vực năng lượng và là doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam. Năm 2025, Petrovietnam đứng thứ 2 trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam.</p> <p>Thủ tướng Chính phủ cho rằng, kết quả Petrovietnam đạt được có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: Khẳng định sứ mệnh tiên phong, vai trò dẫn dắt của Tập đoàn; khẳng định niềm tin và sức mạnh đoàn kết, thống nhất; khẳng định sức mạnh, tầm vóc, sự trưởng thành; tạo dựng niềm tin và lan tỏa sức mạnh; thể hiện khát vọng, bản lĩnh, trí tuệ, ý chí tự lực, tự cường, sự quyết tâm vượt khó, với tinh thần "biến không thành có, biến khó thành dễ, biến không thể thành có thể", "đã nói là làm, đã cam kết phải thực hiện, đã làm, đã thực hiện là có kết quả cụ thể, lượng hóa, cân đong đo đếm được"; thể hiện sự đúng đắn của công tác cán bộ "lựa chọn đúng người, giao đúng việc".</p> <p><em><strong>Tập trung vào "6 tiên phong" và lĩnh vực trọng tâm, cốt lõi</strong></em></p> <p>Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, tạo nền tảng hiện thực hóa "hai mục tiêu chiến lược 100 năm", đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới.</p> <p>Trên cơ sở tổng kết một số bài học kinh nghiệm từ thực tiễn, Thủ tướng Chính phủ đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu tập trung, tạo đột phá vào các lĩnh vực trọng tâm, cốt lõi đồng thời phát triển theo đúng xu hướng thế giới.</p> <p>Thủ tướng Chính phủ đề nghị Petrovietnam phát huy vai trò tiên phong, trụ cột trong triển khai Nghị quyết Đại hội XIV; phấn đấu đạt tăng trưởng 2 con số; tham gia sâu vào các chuỗi giá trị; hình thành hệ sinh thái phát triển công nghiệp dầu khí, qua đó tạo điều kiện thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp khác, cùng các tập đoàn khác lớn mạnh hơn. Thủ tướng Chính phủ đề nghị Petrovietnam thực hiện "6 tiên phong" gồm:</p> <p>Một là, Petrovietnam tiên phong trong đề xuất, góp phần hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế, chính sách.</p> <p>Hai là, Petrovietnam tiên phong trong ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, và đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng (năng lượng tái tạo, hydrogen, LNG, điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi…)</p> <p>Ba là, Petrovietnam tiên phong triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới mô hình quản trị theo hướng hiện đại, thông minh; thực hiện tái cấu trúc, tối ưu hóa hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tài nguyên; chủ động, linh hoạt ứng phó với biến động thị trường; có khả năng làm tổng thầu EPC những công trình năng lượng quy mô lớn.</p> <p>Bốn là, Petrovietnam tiên phong trong hội nhập quốc tế, tham gia các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển hệ sinh thái không chỉ ở trong nước mà còn trên thế giới, với tinh thần "đoàn kết để tạo sức mạnh, hợp tác để cùng có lợi và đối thoại để củng cố lòng tin".</p> <p>Năm là, Petrovietnam tiên phong trong đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách làm, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, và hành động quyết liệt, hiệu quả.</p> <p>Sáu là, Petrovietnam tiên phong trong thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí, tiêu cực, bảo đảm công khai, minh bạch với tinh thần "3 có": Có lợi cho đất nước, có lợi cho người dân, có lợi cho doanh nghiệp" và "2 không": Không có động cơ cá nhân, tham nhũng, tiêu cực và không để thất thoát, lãng phí tài sản". Thủ tướng Chính phủ lưu ý cần coi trọng công tác phòng chống tham nhũng, lấy phòng ngừa là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định; coi chống là khâu quan trọng và đột phá; không để vi phạm nhỏ tích tụ lại thành khuyết điểm, sai phạm lớn.</p> <p>Đối với các kiến nghị, đề xuất tại Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành liên quan - theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và quy định của pháp luật - khẩn trương xử lý trong thời gian sớm nhất; trường hợp vượt thẩm quyền thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.</p> <p>Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Petrovietnam tiếp tục phát huy vai trò tiên phong với tinh thần chiến binh, hành động với "tầm nhìn xa, nghĩ sâu, làm lớn, nói ít làm nhiều, nói đi đôi với làm, lấy hiệu quả làm thước đo, lấy nhân văn làm giá trị bao trùm". Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ sẽ luôn đồng hành, hỗ trợ để Tập đoàn thực hiện tốt sứ mệnh tiên phong.</p> <p>Với phương châm "Đổi mới tư duy - Tiên phong công nghệ - An toàn Năng lượng - Chuyển dịch xanh, số - Kiến tạo giá trị - Nâng tầm vị thế - Bứt phá hội nhập - Tăng trưởng bền vững", Thủ tướng Chính phủ tin tưởng Petrovietnam bước vào năm 2026 với tâm thế mới, động lực mới, cùng khát vọng phát triển và tinh thần đoàn kết, đổi mới sáng tạo, sẽ đạt được các mục tiêu đã đề ra, đóng góp quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước.</p> <p>Tiếp thu các ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Tân Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Ngọc Sơn khẳng định Tập đoàn sẽ không dừng lại ở xây dựng kế hoạch, mà sẽ sớm cụ thể hóa bằng các chương trình hành động quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm.</p> <p>Trong đó, Petrovietnam xây dựng Đảng bộ vững mạnh toàn diện, “là đạo đức, là văn minh”; tổ chức triển khai các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết đại hội các cấp; thực hiện nghiêm túc các Kết luận của Bộ Chính trị; tiếp tục hoàn thiện các quy chế, quy định về công tác tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, qua đó bảo đảm vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng trong mọi hoạt động của Petrovietnam.</p> <p>Tập đoàn tập trung hoàn thiện và triển khai Bộ Chiến lược phát triển Petrovietnam/các lĩnh vực và đơn vị đến 2030, tầm nhìn 2050, gắn với kế hoạch sản xuất - kinh doanh năm 2026; phấn đấu duy trì tăng trưởng hai con số, giữ vững vị thế tập đoàn kinh tế hàng đầu và doanh nghiệp quốc gia trụ cột của nền kinh tế. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, mô hình quản trị, tái cơ cấu Petrovietnam; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ; phát triển đội ngũ nhân sự chiến lược, tăng cường quản trị nhân tài; xây dựng hệ thống quản trị hiện đại, minh bạch, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế.</p> <p>Petrovietnam tập trung triển khai các giải pháp phát triển sản xuất - kinh doanh, đầu tư và tài chính: gia tăng trữ lượng; duy trì và nâng cao sản lượng sản xuất trên tất cả các lĩnh vực hoạt động; quản trị hiệu quả dòng tiền, vốn và tài sản; phục hồi và nâng cao hiệu quả các dự án, đơn vị còn khó khăn; bảo đảm an ninh năng lượng gắn với chuyển dịch năng lượng và tăng trưởng xanh.</p> <p>Tập đoàn tiếp tục đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển dịch năng lượng, đồng thời nâng tầm văn hóa Petrovietnam, coi đây là nền tảng cho phát triển bền vững. Bên cạnh đó, Tập đoàn thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, lan tỏa văn hóa biết ơn - văn hóa tri ân, khẳng định Petrovietnam là “doanh nghiệp quốc gia” luôn đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.</p>Hà Trang
Copyright (c)
2025-12-262025-12-266