Nghiên cứu các công nghệ đã áp dụng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả nứt vỉa thủy lực trong các tầng trầm tích chặt sít của bể Cửu Long
Tóm tắt
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá công tác nứt vỉa thủy lực đã được áp dụng tại các mỏ dầu thuộc bể Cửu Long để rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của phương pháp cho các tầng trầm tích chặt sít chứa dầu tại bể Cửu Long. Nghiên cứu đã thực hiện đánh giá các trường hợp điển hình nứt vỉa thủy lực trong các giếng khai thác dầu để rút ra bài học kinh nghiệm. Nội dung nghiên cứu tập trung vào các quá trình như lựa chọn giếng áp dụng phương pháp, đặc trưng đá chứa và thành phần thạch học, tính toán các tham số địa cơ học và trường ứng suất, so sánh các mô hình địa cơ học mô phỏng quá trình phát triển khe nứt với thực tế áp dụng phương pháp nứt vỉa thủy lực, bán kính nứt vỉa hiệu quả, áp suất bơm ép nứt vỉa cần thiết, áp suất đóng khe nứt, kích thước và loại hạt chèn, quy trình kiểm soát áp suất bơm ép, cũng như các phương pháp đưa giếng trở lại khai thác và giám sát hiệu quả gia tăng sản lượng của giếng. Nghiên cứu đồng thời cũng tiến hành đánh giá các công nghệ nứt vỉa thủy lực hiện đại và hiệu quả đang được áp dụng trên thế giới, đặc biệt là các mô hình mô phỏng địa cơ học tiên tiến trong toàn bộ quá trình nứt vỉa thủy lực, nhằm dự báo chính xác mạng lưới khe nứt tạo thành, tính thấm, độ dẫn, cũng như chiều dài, chiều rộng và chiều cao của khe nứt trong vùng nứt vỉa mà có khả năng khai thác. Dựa trên các kết quả phân tích đánh giá, các giải pháp đã được đề xuất để nâng cao hiệu quả nứt vỉa thủy lực cho các tầng Miocene, Oligocene chặt sít tại bể Cửu Long nhằm gia tăng sản lượng khai thác dầu.
Các tài liệu tham khảo
Hoàng Long, “Nghiên cứu lựa chọn các giải pháp công nghệ và thực nghiệm đánh giá các tác nhân nâng cao hệ số thu hồi dầu cho đối tượng trầm tích lục nguyên của các mỏ dầu thuộc bể Cửu Long”, (Mã số ĐTĐLCN.26/19), Viện Dầu khí Việt Nam, 2021.
Phùng Đình Thực, Dương Danh Lam, Lê Bá Tuấn, và Nguyễn Văn Cảnh, Công nghệ và kỹ thuật khai thác dầu khí. Nhà xuất bản Giáo dục, 1999.
Từ Thành Nghĩa, Nguyễn Thúc Kháng, Lê Việt Hải, Dương Danh Lam, Nguyễn Quốc Dũng, Nguyễn Văn Trung, và Phan Đức Tuấn, Công nghệ xử lý vùng cận đáy giếng các mỏ dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2016.
Vietsovpetro, “Xử lý vùng cận đáy giếng bằng công nghệ bơm các thành phần không có tính axit để tạo thành hỗn hợp axit tại đáy giếng”, 2012.
Vietsovpetro, “Sơ đồ công nghệ điều chỉnh mới khai thác và xây dựng mỏ Bạch Hổ”, 2003, 2008, 2012, 2018.
T.K. Perkins and L.R. Kern, “Widths of hydraulic fractures”, Journal of Petroleum Technology, Volume 13, Issue 9, pp. 937 - 949, 1961. DOI: 10.2118/89-PA.
Bin Chen, Beatriz Ramos Barboza, Yanan Sun, Jie Bai, Hywel R Thomas, Martin Dutko, Mark Cottrell, and Chenfeng Li, “A review of hydraulic fracturing simulation”, Archives of Computational Methods in Engineering, Volume 29, Issue 5, pp. 1 - 58, 2022. DOI: 10.1007/s11831-021-09653-z.
D. Mader, “Hydraulic proppant fracturing and gravel packing”, Developments in Petroleum Science, Volume 26, 1989.
1. Tác giả giao bản quyền bài viết (tác phẩm) cho Tạp chí Dầu khí, bao gồm quyền xuất bản, tái bản, bán và phân phối toàn bộ hoặc một phần tác phẩm trong các ấn bản điện tử và in của Tạp chí Dầu khí.
2. Bằng cách chuyển nhượng bản quyền này cho Tạp chí Dầu khí, việc sao chép, đăng hoặc sử dụng một phần hay toàn bộ tác phẩm nào của Tạp chí Dầu khí trên bất kỳ phương tiện nào phải trích dẫn đầy đủ, phù hợp về hình thức và nội dung như sau: tiêu đề của bài viết, tên tác giả, tên tạp chí, tập, số, năm, chủ sở hữu bản quyền theo quy định, số DOI. Liên kết đến bài viết cuối cùng được công bố trên trang web của Tạp chí Dầu khí được khuyến khích.