Nghiên cứu đánh giá nhiễm bẩn cặn sa lắng trong lòng giếng, thiết bị lòng giếng và các phương pháp giám sát, xử lý đã được áp dụng ở bể Cửu Long
Tóm tắt
Nguyên nhân gây ra hiện tượng nhiễm bẩn trong lòng giếng, thiết bị lòng giếng ở một số mỏ dầu tại Việt Nam chủ yếu do quá trình sa lắng các muối vô cơ. Trong đó, sa lắng các muối vô cơ tại các giếng thường xảy ra trong quá trình khai thác với lưu lượng chất lưu cao, độ ngập nước lớn và áp suất vùng cận đáy giếng cũng như trong lòng giếng sụt giảm nghiêm trọng.
Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá cơ chế các muối vô cơ có gốc carbonate, sulfate được hình thành trong vỉa chứa, vùng cận đáy giếng do sự không tương thích giữa nguồn nước và sự quá bão hòa trong quá trình các nguồn nước tương tác với đá vỉa. Quá trình thay đổi thủy động lực học từ vỉa chứa vào giếng - đặc biệt là quá trình suy giảm áp suất đột ngột, làm các ion có khả năng tạo ra các muối vô cơ gây lắng đọng và bám dính lên thành giếng và thiết bị lòng giếng khai thác - được VPI nghiên cứu và làm rõ cơ chế.
Kết quả nghiên cứu đã chứng minh quá trình thay đổi thủy động lực học trong giếng là nguyên nhân chính tạo thành các muối sa lắng vô cơ gốc carbonate. Một số hệ hóa phẩm gốc acid có tác dụng hòa tan tốt lên hệ sa lắng trong lòng giếng có thể giúp phục hồi hoặc gia tăng sản lượng khai thác của giếng. Dựa trên cơ chế sa lắng muối vô cơ thực tế tại các giếng khai thác, các giải pháp xác định mức độ ảnh hưởng và xử lý đã được nhóm tác giả nghiên cứu áp dụng tại bể Cửu Long.
Các tài liệu tham khảo
Hoàng Long, “Nghiên cứu công tác xử lý acid trong lòng giếng và vùng cận đáy giếng cho các giếng khai thác dầu thuộc bể Cửu Long và Nam Côn Sơn, thềm lục địa Việt Nam”, Viện Dầu khí Việt Nam, 2022.
Viện Dầu khí Việt Nam, “Nghiên cứu chế tạo và xây dựng quy trình công nghệ áp dụng hệ hóa phẩm xử lý sa lắng muối tại các mỏ đang khai thác có điều kiện nhiệt độ cao - áp suất cao”, 2018.
Amer Badr Mohammed Bin Merdhah, and Abu Azam Mohd Yassin, “The study of scale formation in oil reservoir during water injection at high barium and high salinity formation water”, Journal of Applied Sciences, Vol. 7, No. 21, pp. 3198 - 3207, 2007. DOI:10.3923/jas.2007.3198.3207.
Amjad Hussain Shar, Tofeeq Ahmad, and Udo Bernhard Bregar, “Scale buildup, its detection and removal in high temperature gas wells of Miano field”, SPE Production and Operations Conference and Exhibition, Tunis, Tunisia, 8 - 10 June 2010. DOI: 10.2118/135960-MS.
Vietnam Petroleum Institute, “Report of water compatibility study”, 2016.
Thăng Long JOC, "Báo cáo xử lý giếng của mỏ Hải Sư Đen, Hải Sư Trắng", 2019.
Viện Nghiên cứu Khoa học và Thiết kế Dầu khí biển, “Kế hoạch phát triển mỏ Thỏ Trắng”, 2016.
Viện Dầu khí Việt Nam, “Phân tích nghiên cứu PVT nhằm mục đích xác định điều kiện và quy luật hình thành sa lắng muối trong giếng mỏ Thỏ Trắng”, 2019.
Thăng Long JOC, "Kế hoạch phát triển mỏ (FDP) Hải Sư Đen, Hải Sư Trắng", 2011.
Thăng Long JOC, "Kế hoạch phát triển mỏ (FDP) Hải Sư Đen, Hải Sư Trắng", 2018.
Thăng Long JOC, "Báo cáo xử lý giếng của mỏ Hải Sư Đen, Hải Sư Trắng", 2016.
Thăng Long JOC, "Báo cáo xử lý giếng của mỏ Hải Sư Đen, Hải Sư Trắng", 2018.
Thăng Long JOC, "Báo cáo xử lý giếng của mỏ Hải Sư Đen, Hải Sư Trắng", 2019.
Từ Thành Nghĩa, Nguyễn Thúc Kháng, và Nguyễn Quốc Dũng, “Công nghệ xử lý vùng cận đáy giếng các mỏ dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam”, Vietsovpetro, 2016.
1. Tác giả giao bản quyền bài viết (tác phẩm) cho Tạp chí Dầu khí, bao gồm quyền xuất bản, tái bản, bán và phân phối toàn bộ hoặc một phần tác phẩm trong các ấn bản điện tử và in của Tạp chí Dầu khí.
2. Bằng cách chuyển nhượng bản quyền này cho Tạp chí Dầu khí, việc sao chép, đăng hoặc sử dụng một phần hay toàn bộ tác phẩm nào của Tạp chí Dầu khí trên bất kỳ phương tiện nào phải trích dẫn đầy đủ, phù hợp về hình thức và nội dung như sau: tiêu đề của bài viết, tên tác giả, tên tạp chí, tập, số, năm, chủ sở hữu bản quyền theo quy định, số DOI. Liên kết đến bài viết cuối cùng được công bố trên trang web của Tạp chí Dầu khí được khuyến khích.